Tiếng Việt :: English
 
 
  THÔNG BÁO  
  Thông báo điểm thi đua ĐBCL tháng 05/2014   (26/05/2014)
  Strategies for becoming more explicit   (17/05/2014)
  Structured lectures   (17/05/2014)
  What to teach   (17/05/2014)
 
  TIN TỨC  
  Tuyển sinh 2014-Áp dụng mức điểm xét tuyển cho các trường thi ba chung   (15/05/2014)
  Danh sách 53 Trường ĐH-CĐ được tuyển sinh riêng năm 2014   (17/03/2014)
  Cập nhật những điểm mới kỳ thi tuyển sinh đại học cao đẳng năm 2014   (17/03/2014)
  Các kiểu thi trắc nghiệm   (20/10/2012)
TIN TỨC
 
Giới thiệu về bộ Tiêu chuẩn ABET (11/05/2012)
1. Tổng quan về ABET ABET là một tổ chức của Mỹ có uy tín trên thế giới, chuyên kiểm định chất lượng các chương trình giảng dạy khối kỹ thuật (Engineering), công nghệ (Technology), khoa học ứng dụng (Applied Sciences) và điện toán (Computing). ABET là tên viết tắt của cụm từ Accreditation Board for Engineering and Technology, tạm dịch là Hội đồng kiểm định các chương trình đào tạo khối kỹ thuật và công nghệ. Khi một trường đại học hay một chương trình giáo dục có được sự chứng nhận của ABET thì có nghĩa là trường đại học đó hay chương trình đó đạt tiêu chuẩn chất lượng trên toàn thế giới. ABET đưa ra 9 tiêu chuẩn kiểm định và các tiêu chuẩn này đều quan trọng như nhau. ABET nhấn mạnh Chuẩn đầu ra (Student outcomes), trước đây gọi là chuẩn đầu ra (learning outcomes) của các chương trình giáo dục đại học. Việc coi trọng Chuẩn đầu ra là khâu quan trọng nhất trong việc thiết kế, xây dựng các chương trình giáo dục đại học. ABET có các hoạt động sau: - Kiểm định các chương trình giáo dục. - Thúc đẩy chất lượng và đổi mới trong giáo dục - Tư vấn, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển các tổ chức giáo dục trên thế giới. - Thông tin đến các thành viên và xã hội về hoạt động và thành tựu của tổ chức. - Dự báo và chuẩn bị đáp ứng với các thay đổi từ môi trường bên ngoài và nhu cầu tương lai của các thành viên. - Quản lý các hoạt động và nguồn lực một cách hiệu quả và có trách nhiệm về tài chính. 2. Lịch sử phát triển của ABET Tiền thân của ABET là Hội đồng phát triển nghề nghiệp kỹ thuật (Engineers Council for Professional Development - ECPD) được thành lập năm 1932, gồm có 7 thành viên, bao gồm: (1) Hội kỹ sư công chánh Hoa Kỳ (American Society of Civil Engineers); (2) Viện Kỹ sư mỏ và luyện kim Hoa Kỳ (American Institute of Mining and Metallurgical Engineers, nay là American Institute of Mining, Metallurgical, and Petroleum Engineers tức Viện Kỹ thuật mỏ, luyện kim và dầu khí Hoa Kỳ); (3) Hội Kỹ sư cơ khí Hoa Kỳ (American Society of Mechanical Engineers); (4) Viện Kỹ sư điện Hoa Kỳ (American Institute of Electrical Engineers); (5) Hội Phát triển Giáo dục kỹ sư (Society for the Promotion of Engineering Education, nay là American Society for Engineering Education tức Hội giáo dục kỹ thuật); (6) Viện kỹ thuật hóa học (American Institute of Chemical Engineers) và (7) Hội đồng quốc gia các Ban khảo thí kỹ thuật (National Council of State Boards of Engineering Examiners). Ngay sau khi thành lập, ECPD đã phát triển mạnh các hoạt động đánh giá và công nhận chương trình giáo dục. Năm 1936 lần đầu tiên, ECPD thực hiện đánh giá chương trình giáo dục khối kỹ thuật. Mười năm sau, năm 1946, ECPD thực hiện đánh giá các chương trình giáo dục khối công nghệ. Tính đến năm 1947, ECPD đã đánh giá 580 chương trình khối kỹ thuật ở 133 cơ sở giáo dục. Điều này làm cho EPCD trở thành một tổ chức kiểm định chuyên nghiệp cho khối ngành kỹ thuật và công nghệ. Năm 1980, tổ chức này đổi tên thành ABET (Accreditation Board for Engineering and Technology) để tập trung vào hoạt động chính của mình là kiểm định chất lượng giáo dục, mặc dù ngoài kiểm định, ABET vẫn tiếp tục thực hiện các hoạt động khác nhằm thúc đẩy việc nâng cao chất lượng giáo dục cho khối ngành kỹ thuật và công nghệ. Từ năm 2005, tên gọi ABET được chính thức sử dụng. Hiện nay ABET đã kiểm định hơn 3100 chương trình trên 600 trường đại học và cao đẳng trên thế giới. Trước đây, ABET không thực hiện kiểm định các chương trình đào tạo ở ngoài nước Mỹ. Đến năm 2005, ABET bắt đầu tiến hành lập kế hoạch kiểm định các chương trình quốc tế. Các chuyến kiểm định quốc tế đầu tiên sẽ diễn ra năm 2007. Như vậy ở Việt Nam việc kiểm định các chương trình giáo dục theo chuẩn ABET hãy còn mới mẻ và chưa phổ biến. Một số trường Đại học ở Việt Nam quan tâm đến ABET - Đại học FPT - Đại học Bách khoa TpHCM - Đại Học Đà Nẵng 3. Qui trình kiểm định theo ABET Kiểm định là hoạt động hoàn toàn tự nguyện. Quy trình kiểm định xuất phát từ yêu cầu của trường đại học muốn đánh giá chương trình đào tạo của mình. Chỉ những chương trình đã có ít nhất một khóa sinh viên tốt nghiệp mới có thể tham gia kiểm định. Các chương trình tham gia kiểm định trước hết sẽ thực hiện tự đánh giá và hoàn tất một bảng câu hỏi do ABET cung cấp. Việc tự đánh giá nhằm rà soát xem các dữ liệu về sinh viên, chương trình giảng dạy, giảng viên, công tác quản lý, phương tiện học tập và sự hỗ trợ của nhà trường có đáp ứng được các tiêu chuẩn căn bản đã đề ra hay không. Trong khi chương trình đang thực hiện tự đánh giá, các Ủy ban Kiểm định có liên quan (4 Ủy ban nêu trên) sẽ thành lập một đoàn đánh giá ngoài để thực hiện khảo sát thực tế tại trường. Đoàn đánh giá bao gồm một trưởng đoàn cùng với ít nhất là một chuyên gia đánh giá chương trình. Thành viên của đoàn là những tình nguyện viên từ các trường đại học, các cơ quan chính phủ, các ngành công nghiệp, hoặc những người hoạt động tư nhân. Trong quá trình khảo sát, đoàn đánh giá sẽ xem xét các tài liệu học tập, đồ án của sinh viên, các mẫu bài tập, đồng thời phỏng vấn các sinh viên, giảng viên và bộ phận quản lý và phục vụ. Đoàn tìm hiểu để đưa ra phán đoán về khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định chương trình, và giải quyết các thắc mắc hoặc vấn đã được phát hiện từ bản báo cáo tự đánh giá. Sau khi khảo sát tại trường, đoàn đánh giá sẽ cung cấp cho trường bản báo cáo đánh giá để giúp trường điều chỉnh những chi tiết về dữ kiện được trình bày chưa hợp lý hoặc có những sai sót và kịp thời sửa chữa các nhược điểm của chương trình. Sau cùng, đoàn đánh giá trình bày kết quả đánh giá cũng như những kiến nghị của họ tại hội nghị thường niên với sự tham dự của tất cả các Ủy ban Kiểm định của ABET. Dựa trên những kết quả của bản báo cáo, các thành viên của Ủy ban sẽ bỏ phiếu và thông báo cho trường kết quả cuối cùng. Những thông tin được cung cấp cho trường bao gồm những điểm mạnh, điểm yếu và các kiến nghị cải thiện. Kết quả kiểm định có giá trị tối đa trong vòng 6 năm, và kiểm định theo ABET được công nhận trong khoảng thời gian tối đa là 6 năm, sau đó các trường cần đăng ký lại để được tiếp tục kiểm định. Có thể tóm tắt quy trình kiểm định của ABET như sau: - Các chuyên viên tư vấn về ABET xem xét tài liệu tự nhận xét của cơ sở đào tạo có chươmg trình được kiểm định. - Các chuyên viên ABET tiến hành chuyến thăm kiểm tra thử tại cơ sở đào tạo, rà soát tất cả tài liệu, các môn học, phòng thí nghiệm, và gặp gỡ những người quản trị, giảng viên, sinh viên, … - Một nhóm chuyên viên ABET đến cơ sở đào tạo kiểm định chính thức chương trình. - Chứng nhận kiểm định của ABET sau khi được cấp sẽ được duy trì ở các năm tiếp theo dưới sự theo dõi của ABET, nếu cơ sở đào tạo muốn. 4. Nội dung kiểm định của ABET 4.1. Các chương trình kiểm định ABET Các chương trình được ABET kiểm định gồm ở 4 khối ngành: (1) Khoa học ứng dụng (Applied sciences) (2) Kỹ thuật (Engineering) (3) Công nghệ (Technology) (4) Điện toán (Computing) Một số chương trình cụ thể thuộc các khối Khoa học ứng dụng (Applied sciences) Kỹ thuật (Engineering) Công nghệ (Technology) Điện toán (Computing) Môi trường Y tế An toàn Vệ sinh công nghiệp Quản lý công nghiệp Quản lý chất lượng Điều tra Kỹ thuật hàng không Kỹ thuật mỏ Kỹ thuật hải dương Kỹ thuật dầu khí Kiến trúc Kỹ thuật gốm Kỹ thuật hoá học Xây dựng dân dụng Xây dựng cơ bản Quản lý kỹ thuật Cơ khí kỹ thuật Kỹ thuật môi trường Kỹ thuật địa chất Kỹ thuật công nghiệp Kỹ thuật sản xuất Kỹ thuật cơ khí Kỹ thuật phần mềm Kỹ thuật khảo sát Công nghệ chế tạo máy điều hòa Công nghệ điện tử Công nghệ hóa Công nghệ tự động Công nghệ xây dựng Công nghệ môi trường Công nghệ cơ điện tử Công nghệ không gian Công nghệ kiến trúc Công nghệ hải quân -hàng hải Công nghệ hạt nhân Viễn thông Khoa học máy tính Công nghệ thông tin Hệ thống thông tin 4.2. Các tiêu chuẩn kiểm định chung của ABET Tiêu chuẩn 1: Sinh viên (Student) Tiêu chuẩn 2: Mục tiêu của chương trình đào tạo (Program educational objectives) Tiêu chuẩn 3: Chuẩn đầu ra (Student outcomes) Tiêu chuẩn 4: Sự cải thiện liên tục (Continuous improvement) Tiêu chuẩn 5: Chương trình đào tạo (Curriculum) Tiêu chuẩn 6: Đội ngũ giảng viên (Faculty) Tiêu chuẩn 7: Cơ sở vật chất (Facilities) Tiêu chuẩn 8: Sự hỗ trợ của cơ sở đào tạo (Institutional support ) Tiêu chuẩn 9: Tiếu chí của chương trình (Program criteria) “Sinh viên” là tiêu chuẩn được xem xét đầu tiên, thể hiện quan điểm của ABET xem người học là trung tâm. Tiêu chuẩn này đòi hỏi phải theo dõi sự phát triển của sinh viên nhằm giúp họ đạt được các kết quả mong muốn, xem xét các yêu cầu về việc nhận sinh viên vào học, việc hỗ trợ người học qua hệ thống cố vấn, qua cách vận hành chương trình. “Mục tiêu đào tạo” đòi hỏi phù hợp với sứ mạng của trường đại học và dựa trên đóng góp của nhiều thành phần liên quan đến người học: giới doanh nghiệp, cựu sinh viên, giảng viên. “Chuẩn đầu ra” với các yêu cầu cụ thể (gồm ít nhất 11 yêu cầu) thể hiện các kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học đạt được khi tốt nghiệp. Tiêu chuẩn này thể hiện quan điểm đánh giá của tổ chức ABET, Inc. là đánh giá sự thành công của một chương trình là dựa trên kết quả đạt được của người học chứ không tập trung vào những gì mà các giảng viên thực hiện trên lớp. “Cải thiện liên tục” là tiêu chuẩn này đòi hỏi một chương trình đào tạo cần phải có 1 hệ thống đánh giá chất lượng người học để từ đó liên tục cải thiện nhằm nâng cao chất lượng đạt được. Tiêu chuẩn “Chương trình đào tạo” bao gồm một số yêu cầu tối thiểu về thời lượng của các khối kiến thức. Yêu cầu quan trọng nhất của tiêu chuẩn này là phải đảm bảo người học có thể đạt được các yêu cầu trong “Chuẩn đầu ra”. Các tiêu chuẩn khác nhằm đảm bảo khả năng vận hành chương trình đào tạo: có đủ giảng viên trong Khoa và các giảng viên có thời lượng làm việc hợp lý cho công tác đào tạo; có đủ tiềm lực tài chính và cơ sở vật chất phục vụ cho việc vận hành chương trình đào tạo. Mô tả các tiêu chuẩn cụ thể của ABET Tiêu chuẩn 1: Sinh viên (Students) Chất lượng và năng lực làm việc của sinh viên trong chương trình và sinh viên đã tốt nghiệp là những điểm quan trọng trong đánh giá một chương trình đào tạo. Cơ sở đào tạo phải đánh giá năng lực làm việc của sinh viên, tư vấn cho sinh viên về chương trình học tập cũng như các vấn đề liên quan đến nghề nghiệp tương lai của họ, đồng thời theo dõi tiến trình học tập của sinh viên nhằm củng cố những thành công của sinh viên trong việc đạt được các mục tiêu của chương trình đào tạo; đảm bảo cho sinh viên đạt được các mục tiêu mà chương trình đào tạo đặt ra đối với sinh viên khi tốt nghiệp. Ngoài ra cơ sở đào tạo phải có quy chế chấp nhận sinh viên từ chương trình khác chuyển đến và công nhận kết quả các tín chỉ mà sinh viên của mình tích lũy tại các cơ sở đào tạo khác. Cơ sở đào tạo phải thiết lập và thực hiện các quy trình nhằm đảm bảo mọi sinh viên đều đáp ứng được các yêu cầu đặt ra của chương trình. Tiêu chuẩn 2: Mục tiêu của chương trình đào tạo (Program educational objectives) Mục tiêu của chương trình đào tạo phải miêu tả khái quát những kết quả mà chương trình đào tạo có thể trang bị cho sinh viên sau khi ra trường về chuyên môn, nghiệp vụ và cho sự nghiệp của họ. Mỗi chương trình đào tạo cần có: (a) Các mục tiêu phải phù hợp với tuyên ngôn của trường. (b) Quy trình xác định và đánh giá thường xuyên các mục tiêu đào tạo trên cơ sở nhu cầu của các thành phần khác nhau trong chương trình đào tạo. (c) Ngành đào tạo có nội dung chương trình đào tạo hướng tới việc trang bị cho sinh viên đạt được các mục tiêu đầu ra đồng thời củng cố các kết quả của sinh viên sau khi tốt nghiệp. (d) Quy trình đánh giá liên tục mức độ thực hiện các mục tiêu đặt ra trong chương trình. Kết quả đánh giá sẽ được dùng để xây dựng và cải tiến sản phẩm của chương trình đào tạo giúp sinh viên được trang bị tốt hơn để đạt được các mục tiêu đào tạo. Tiêu chuẩn 3: Chuẩn đầu ra (Student outcomes) Chuẩn đầu ra là phần miêu tả những gì sinh viên cần biết và cần làm được khi họ tốt nghiệp. Những nôị dung này bao gồm kỹ năng, tri thức, và hành vi mà sinh viên học hỏi được khi tham gia vào chương trình đào tạo. Mỗi chương trình đào tạo cần xác định được chuẩn đầu ra nhằm đạt được các mục tiêu chương trình đã nêu ở tiêu chuẩn thứ 2 nói trên. Các chuẩn đầu ra phải chứng tỏ rằng sinh viên trong chương trình có được. (a) khả năng ứng dụng tri thức thuộc các lĩnh vực toán, khoa học và kỹ thuật. (b) có khả năng thiết kế và tiến hành thí nghiệm cũng như phân tích và đọc kết quả thí nghiệm. (c) có khả năng thiết kế một hệ thống, một giai đoạn của một quy trình sao cho đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong điều kiện ràng buộc về kinh tế, môi trường, xã hội, chính trị, đạo đức, sức khoẻ và an toàn, khả năng sản xuất và tính bền vững. (d) có khả năng làm việc trong các nhóm liên ngành. (e) có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề. (f) có hiểu biết về trách nhiệm chuyên môn và đạo đức. (g) có khả năng giao tiếp tốt. (h) học đủ rộng để hiểu được tác động của các giải pháp kỹ thuật trong bối cảnh kinh tế, xã hội, môi trường toàn cầu. (i) hiểu được sự cần thiết và có khả năng tham gia học tập suốt đời. (j) có hiểu biết về các vấn đề đương đại. (k) có khả năng sử dụng các kỹ thuật, kỹ năng, và công cụ kỹ thuật hiện đại cần thiết trong thực hành. Ngoài ra, một chuẩn đầu ra phải chứng minh được rằng sinh viên còn đạt được các kết quả khác nữa theo quy định của chương trình nhằm đạt được các mục tiêu đào tạo của cơ sở mình. Tiêu chuẩn 4: Sự cải thiện liên tục (Continuous improvement) Chương trình sử dụng một qui trình có minh chứng tập hợp dữ liệu liên quan để đánh giá các mục tiêu giáo dục và kết quả kỳ vọng của chương trình, cũng như mức độ mà chúng được đáp ứng. Các kết quả đánh giá được ghi nhận và sử dụng để cải thiện liên tục chương trình thông qua một kế hoạch có minh chứng. Cần có những quy trình định nghĩa Chuẩn đầu ra và một quy trình đánh giá sản phẩm, kết quả đánh giá phải được ghi lại thành văn bản. Quy trình đánh giá sản phẩm cho thấy Chuẩn đầu ra được đánh giá liên tục và cho thấy mức độ hoàn thiện các sản phẩm này như thế nào. Cần có bằng chứng cho thấy kết quả đánh giá chương trình được sử dụng để cải tiến hơn nữa chương trình đào tạo. Tiêu chuẩn 5: Chương trình đào tạo (Curriculum) Chương trình đào tạo phải nhất quán với các mục tiêu giáo dục của nó và được thiết kế sao cho mỗi kết quả kỳ vọng của chương trình đều có thể đạt được. Các môn học cần kết hợp các yêu cầu về kỹ thuật và nghề nghiệp với các yêu cầu về giáo dục tổng quát và các môn tự chọn, để chuẩn bị cho các sinh viên một nghề nghiệp và việc học tiếp trong ngành gắn với chương trình, cũng như việc hoạt động trong một xã hội hiện đại. Các yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ nêu rõ lĩnh vực phù hợp với nội dung được đào tạo, nhưng không quy định cụ thể cho các môn học. Các Khoa phải đảm bảo nội dung chương trình dành đủ thời gian và sự quan tâm đến từng thành tố trong chuyên môn nghiệp vụ, phù hợp với mục tiêu và kết quả đào tạo của ngành học và của cơ sở đào tạo. Chương trình đào tạo bao gồm: (a) Một năm đào tạo kết hợp giữa toán cao cấp dành cho bậc đại học với các môn khoa học cơ bản phù hợp với chuyên ngành đào tạo. (b) Một năm rưỡi dành cho các chủ đề kỹ thuật, bao gồm các môn khoa học kỹ thuật và thiết kế kỹ thuật phù hợp với ngành học của sinh viên. Các môn khoa học kỹ thuật đều có cơ sở từ môn toán và khoa học cơ bản nhưng có thêm các kiến thức sâu hơn về các ngành học ứng dụng đòi hỏi sáng tạo. Những môn học này là cầu nối giữa toán, khoa học cơ bản với môn kỹ thuật thực hành. Thiết kế kỹ thuật là một quy trình thiết kế hệ thống, một bộ phận của hệ thống, hay một quy trình hoạt động trong một số điều kiện nhất định cho sẵn. Đó là một quy trình đòi hỏi sinh viên phải quyết định (và thường xuyên thay đổi quyết định) trong đó các môn khoa học cơ bản, toán, và khoa học kỹ thuật được ứng dụng trong sử dụng các nguồn lực sao cho đáp ứng được tối đa các yêu cầu cho sẵn. (c) Một đơn vị đào tạo tổng hợp nhằm bổ sung nội dung kỹ thuật cho chương trình và phù hợp với mục tiêu của chương trình đào tạo cũng như mục tiêu của cơ sở đào tạo. Sinh viên cũng cần phải được trang bị kiến thức thực tế về thực hành kỹ thuật thông qua việc tham gia thực hành thiết kế dựa trên hiểu biết và kỹ năng mà họ học được trong các môn học trước đó, đồng thời kết hợp các tiêu chuẩn kỹ thuật với rất nhiều những hạn chế của tình hình thực tiễn. Tiêu chuẩn 6: Đội ngũ giảng viên (Faculty) Đội ngũ giảng viên là trọng tâm của bất kỳ một chương trình đào tạo nào. Đội ngũ giảng viên bảo đủ số lượng và năng lực để thực hiện việc đào tạo và đào tạo liên thông trong chương trình. Cơ sở đào tạo phải có đủ giảng viên và phòng ban để thực hiện việc trao đổi với sinh viên, để tư vấn và khuyên bảo sinh viên trong học tập, để tổ chức các hoạt động phục vụ cho sinh viên, phát triển chuyên môn cho sinh viên, liên hệ với các cơ sở công nghiêp và chuyên môn nghiệp vụ cũng như với nhà tuyển dụng. Đội ngũ giảng viên phải có đủ năng lực và phải chứng tỏ có đủ uy tín để đảm bảo sẽ đưa ra những hướng dẫn hợp lý cho chương trình đào tạo, để xây dựng và thực hiện các quy trình kiểm tra, đánh giá, và tiếp tục cải tiến chương trình, mục tiêu và kết quả đào tạo. Năng lực chung của đội ngũ giảng viên có thể được đánh giá thông qua các nhân tố như: trình độ học vấn, sự đa dạng về lĩnh vực chuyên môn, kinh nghiệm thực hành kỹ thuật, kinh nghiệm giảng dạy, khả năng giao tiếp, sự nhiệt tình trong xây dựng chương trình hiệu quả hơn nữa, trình độ học thuật, mức độ tham gia vào các tố chức, hiệp hội chuyên ngành, và chứng chỉ chuyên nghiệp. Tiêu chuẩn 7: Cơ sở vật chất (Facilities) Phòng học, phòng thí nghiệm, và các trang thiết bị đi kèm phải đầy đủ để thực hiện các mục tiêu đào tạo và để tạo ra môi trường khuyến khích học tập. Phải có các trang thiết bị phù hợp nhằm tăng cường trao đổi giữa sinh viên với các Khoavà để xây dựng không khí khuyến khích phát triển chuyên môn nghiệp vụ và khuyến khích các hoạt động chuyên môn. Chương trình đào tạo phải tạo cơ hội cho sinh viên tìm hiểu cách sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Hạ tầng thông tin và máy tính phải có để hỗ trợ các hoạt động học thuật của sinh viên và Khoa, và hỗ trợ các mục tiêu đào tạo của chương trình và cơ sở đào tạo. Tiêu chuẩn 8: Sự hỗ trợ từ phía trường Sự hỗ trợ của trường, các nguồn tài chính, và sự lãnh đạo mang tính xây dựng cần phải có đủ nhằm đảm bảo chất lượng và hoạt động liên tục của chương trình đào tao kỹ thuật. Các nguồn hỗ trợ phải đủ để thu hút, duy trì, và đảm bảo cho sự phát triển chuyên môn nghiệp vụ liên tục của Đội ngũ giảng viên gồm các nhân sự chất lượng cao. Các nguồn hỗ trợ cũng cần phải đủ để có đạt được, bảo dưỡng, và vận hành các trang thiết bị và cơ sở vật chất phù hợp với chương trình đào tạo kỹ thuật. Ngoài ra, cần có đủ sự hỗ trợ về mặt nhân sự và các dịch vụ ởửtong trường nhằm đạt đựoc các yêu cầu của chương trình. Tiêu chuẩn 9: Các tiêu chuẩn riêng ở mỗi chương trình đào tạo Mỗi ngành học phải đáp ứng các tiêu chuẩn trong Bộ tiêu chuẩn chương trình đào tạo. Bộ tiêu chuẩn này cung cấp các chi tiết cụ thể cần thiết cho việc diễn giải các tiêu chuẩn ở cấp độ cơ bản nhất áp dụng cho từng ngành học. Các yêu cầu đối với từng ngành đào tạo được quy định trong bộ tiêu chuẩn chương trình đào tạo được hạn chế theo các lĩnh vực và theo trình độ của từng khoa. Nếu như một chương trình đào tạo bất kỳ, xét theo tên gọi, thuộc về 2 hoặc nhiều nhóm tiêu chuẩn trong Bộ tiêu chuẩn, thì ngành học đó phải thoả mãn tất cả các tiêu chuẩn đó. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn trùng lặp có thể chỉ phải áp dụng 1 lần. Ví dụ các tiêu chuẩn yêu cầu thêm của chương trình khoa học máy tính (Computer science): Tiêu chuẩn 3: Chương trình cho phép các sinh viên đạt được khi tốt nghiệp có: (a) khả năng ứng dụng các cơ sở toán học, nguyên lý giải thuật, và lý thuyết khoa học máy tính trong việc mô hình và thiết kế các hệ thống dựa trên máy tính sao cho chứng tỏ được sự hiểu biết về những đánh đổi trong các chọn lựa thiết kế. (b) khả năng ứng dụng các nguyên lý phát triển và thiết kế trong việc xây dựng các hệ thống phần mềm với độ phức tạp thay đổi. Tiêu chuẩn 5: Các sinh viên cần có khối lượng các môn học hoặc kinh nghiệm giáo dục tương đương như sau: A. Khoa học máy tính: một và một phần ba năm bao gồm: (1) các nền tảng về giải thuật, cấu trúc dữ liệu, thiết kế phần mềm, khái niệm về các ngôn ngữ lập trình, tổ chức và kiến trúc máy tính. (2) tiếp cận với các ngôn ngữ và hệ thống lập trình khác nhau. (3) tinh thông ít nhất một ngôn ngữ lập trình cấp cao. (4) học các môn nâng cao trên nền các môn cơ sở để có bề sâu. B. Toán học: ít nhất nửa năm, bao gồm toán rời rạc. Các phần toán học bổ sung có thể là các môn về tích phân, vi phân, đại số tuyến tính, phương pháp số, xác suất, thống kê, lý thuyết số, hình học, hoặc logic ký hiệu. C. Khoa học: một thành phần khoa học để phát triển sự hiểu biết về phương pháp khoa học, và tạo cho sinh viên cơ hội trải nghiệm cách thức học hỏi này trong các môn chuyên ngành khoa học và kỹ thuật có làm thí nghiệm. Tiêu chuẩn 6: Một số giảng viên toàn thời gian phải có học vị Tiến sĩ về khoa học máy tính. 5. Khả năng áp dụng tại trường ĐH Nha Trang Kiểm định không phải là hoạt động xếp hạng mà nhằm đảm bảo một chương trình đào tạo hay một trường đại học đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng đã đề ra. Hiện tại có 2 hình thức kiểm định: kiểm định trường (institutional accreditation) và kiểm định chương trình (program accreditation). 5.1. Vấn đề kinh phí Chi phí cho việc kiểm định theo chuẩn ABET gồm 2 phần: chi phí khảo sát và chi phí duy trì kết quả kiểm định. Theo biểu áp dụng năm 2009/2010, chi phí cho một đoàn đánh giá lần đầu tiên bao gồm chi phí cơ bản (8.500 USD cho một trường đăng ký kiểm định, không kể số chương trình sẽ được kiểm định là bao nhiêu), chi phí của các chuyên gia đánh giá (8.500 USD cho một chuyên gia), chi phí đi lại và khách sạn thực tế cho đoàn, và một số chi phí phát sinh khác. Số lượng thành viên của một đoàn từ 2 đến 3 người, trong đó có 1 trưởng đoàn và 1 đến 2 chuyên gia. Chi phí của việc duy trì kết quả kiểm định là 1.100 USD phí cơ bản cho một trường đăng ký kiểm định (không kể số chương trình), và 1.100 USD cho mỗi chương trình được kiểm định. 5.2. Sự phù hợp Bộ tiêu chuẩn của ABET chủ yếu tập trung và thích hợp với các ngành khối kỹ thuật, công nghệ, khoa học ứng dụng và điện toán như đã đề cập ở trên. So với trường ta, bộ tiêu chuẩn của ABET đề ra là khá cao và ít tương đồng về chương trình đào tạo. Ngoài ra, kinh phí để kiểm định cho một chương trình không nhỏ. Đặc biệt kiểm định ABET chỉ áp dụng cho những chương trình đào tạo chủ yếu bằng tiếng Anh. Tiếng Anh sẽ là ngôn ngữ làm việc chính thức của đoàn đánh giá ngoài, trong đó tất cả các trao đổi và phỏng vấn sẽ bằng tiếng Anh. Báo cáo tự đánh giá cũng như các tài liệu cung cấp cho đoàn đánh giá cũng phải được viết hoàn toàn bằng tiếng Anh. 5.3. Hướng điều chỉnh nếu áp dụng ? Tài liệu tham khảo Vũ Thị Phương Anh, 2009. Tiêu chí thẩm định các chương trình đào tạo khối kỹ thuật. Áp dụng trong thẩm định chương trình giai đoạn 2006-2007. Tài liệu do TTKT&ĐGCLĐT biên soạn để phục vụ các hoạt động của ĐHQG-HCM. Nhóm biên soạn do TS. Vũ Thị Phương Anh làm trưởng nhóm và một số nghiên cứu viên, chuyên viên của Trung tâm cùng thực hiện. Nguyễn Hứa Phùng, 2010, Chia sẽ kinh nghiệm triển khai thực hiện chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn ABET tại Khoa Khoa học & Kỹ thuật Máy tính, Trường Đại học Bách Khoa. Hội thảo CDIO 2010 - Đại học Quốc gia Tp.HCM. Cao Hoàng Trụ, 2010. ABET: Mục tiêu và Động lực của việc Đổi mới các Chương trình Đào tạo về Kỹ thuật và Công nghệ. Hội thảo CDIO 2010 - Đại học Quốc gia Tp.HCM. www.abet.org 


  Tin tức khác
- Cần kiểm định chất lượng giáo dục độc lập (02/10/2010)
- Chi gần 99 tỉ kiểm định chất lượng ĐH và trung cấp (02/10/2010)
- Gần 100 tỷ đồng thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục (01/12/2010)
- 3 yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng giáo dục đào tạo (19/12/2011)
- Kiểm định chất lượng giáo dục : cần thời gian nhưng phải quyết tâm (19/12/2011)
- Đề xuất kiểm định chất lượng ĐH,CĐ,TCCN 5 năm 1 lần (19/12/2011)
- Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học : Không nên để các trường tự bơi (19/12/2011)
- Kiểm định chất lượng giáo dục đại học: Cần được chi rõ ràng (19/12/2011)
- Chất lượng giáo dục đại học: phải đo lường một cách cụ thể (19/12/2011)
 
a
     © Bản quyền thuộc Đại Học Duy Tân .
Thiết kế bởi Trung tâm Công nghệ Phần mềm.
Trang chủ :: Văn bản pháp quy :: Biểu mẫu :: Thông báo :: Nhân sự :: Liên hệ